htttql 1

NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Kinh nghiệm:Đào tạo vàPhát triển nhân lực ngành Hệ thống thông tin quản lý, chuyên sâu về TIN HỌC KINH TẾ, TIN HỌC KẾ TOÁN HAY TIN HỌC ỨNG DỤNG TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, NGÂN HÀNGnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế  và nhu cầu của xã hội ngày nay.

1. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực Hệ thống thông tin quản lý

Hiện nay, ngành Hệ thống thông tin quản lý (HTTTQL) là một trong những ngành học được xã hội đánh giá cao và nhu cầu nhân lực ngành này ngày càng lớn. Theo khảo sát về vị trí việc làm và nghề nghiệp của tạp chí Wall Street Journal, Mỹ (năm 2011), sinh viên tốt nghiệp chương trình HTTTQL tại các nước phát triển đều có mức lương khởi điểm khá cao và sự hài lòng với nghề nghiệp lựa chọn. Tại Hoa Kỳ, nghề HTTTQL có lương khởi điểm đứng thứ 15/144 nghề nghiệp, có sự thỏa mãn nghề nghiệp trong nhóm đầu 5 ngành nghề. Chính vì vậy, nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới đã đào tạo ngành này từ lâu, như: chương trình về HTTTQL Trường Đại học UEL (Anh) hay hệ thống thông tin kinh doanh của Trường Đại học PSU (Hoa Kỳ), Trường Đại học Quản lý (Singapore)…

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Khoa Quốc tế – ĐH Quốc gia Hà Nội tháng 03/2015 cho thấy nguồn nhân lực trong lĩnh vực HTTTQL ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu cao nhưng khó tìm kiếm được  nhân lực nắm vững kiến thức cơ bản về quản lý và kinh doanh, tin học và hệ thống thông tin; có kiến thức chuyên sâu và kĩ năng nghề nghiệp về thiết kế, vận hành, quản trị các HTTTQL – kinh doanh; có năng lực tổng hợp, phân tích thông tin, trợ giúp hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách, dự án về phát triển và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức, doanh nghiệp. Cũng theo nghiên cứu này, số lượng các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam đào tạo ngành HTTTQL còn chưa nhiều, số lượng tuyển sinh còn rất ít, với chương trình chưa cập nhật, không đáp ứng được nhu cầu của người học về các khối kiến thức, đặc biệt về các khối kiến thức CNTT tiên tiến và khoa học quản lý hiện đại.

Trong xu thế chung đó của xã hội, khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc cũng có nhu cầu cao về nhân lực ngành HTTTQL nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại lớn. Trước những vô vàn khó khăn về điều kiện kinh tế, địa lý, trình độ nhận thức, Trường ĐH CNTT&TT – ĐH Thái Nguyên là cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn, có nhiệm vụ chính trị quan trọng là phải đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng nói chung và nhân lực ngành HTTTQL nói riêng, đáp ứng ngày càng cao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho cả vùng phên dậu của đất nước. Đứng trước yêu cầu đó, Nhà trường đã giao cho Khoa HTTTKT xây dựng, quản lý và phát triển đào tạo ngành HTTTQL từ rất sớm, ngay từ những năm đầu Nhà trường mới thành lập và là một trong 05 ngành đào tạo đầu tiên của Nhà trường. Với vai trò quan trọng và hiểu được ý nghĩa chính trị quan trọng như vậy, nhiều năm qua Khoa luôn luôn nỗ lực không ngừng, năng động, sáng tạo và đổi mới để xây dựng Khoa – trong đó có ngành HTTTQL ngành một phát triển.

2. Thực trạng đào tạo ngành HTTTQL tại Khoa HTTT Kinh tế, Trường ĐH CNTT&TT

Khoa HTTT Kinh tế là đơn vị trực thuộc Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên. Khoa được cơ cấu với 04 bộ môn: Tin học Kinh tế; Tin học Tài chính; Thương mại điện tử; và Quản trị văn phòng. Hiện nay, Khoa đang đào tạo gần 1200 sinh viên, trong đó hơn 800 sinh viên ngành Hệ thống thông tin quản lý. Từ năm 2008 tới nay, Khoa đã đào tạo 04 chuyên ngành: Tin học Kinh tế; Tin học Kế toán; Tin học Ngân hàng và Thương mại điện tử. Với 08 khóa đã và đang đào tạo, trong đó 04 khóa từ K7 tới K10 ra trường cung cấp trên 500 lao động chất lượng cao lĩnh vực Hệ thống thông tin quản lý cho khu vực Trung du – Miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của cả vùng.

Trong suốt thời gian hình thành và phát triển, Khoa cũng có được những điều kiện thuận lợi nhất định. Tuy nhiên, để có được thành quả như ngày hôm nay, Khoa đã phải trải qua rất nhiều khó khăn và thách thức để xây dựng và phát triển ngành và các chuyên ngành Hệ thống thông tin quản lý.

Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất tại Khoa HTTT Kinh tế khi mở ngành Hệ thống thông tin quản lý còn gặp rất nhiều khó khăn. Trường ĐH CNTT&TT – ĐH được thành lập trên cơ sở Khoa Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên tháng 12/2001 với điều kiện cơ sở vật chất vô cùng nghèo nàn về lớp học và trang thiết bị phục vụ. Các lớp học thực hành ít ỏi, các trang thiết bị thực hành, phòng máy tính chủ yếu là những máy cũ, cấu hình thấp, tốc độ chậm làm ảnh hướng không nhỏ tới hoạt động giảng dạy. Từ tháng 12/2007, Bộ môn Hệ thống thông tin kinh tế chính thức được thành lập và ngay năm học 2007 – 2008 đã xin mở ngành và tuyển sinh khóa đầu tiên với 56 sinh viên. Tháng 03/2011, Khoa HTTTKT được thành lập với 03 bộ môn: Tin học Kinh tế, Tin học Tài chính và Thương mại điện tử. Thời gian này, là thời điểm Nhà trường mới thành lập, vật chất nghèo nàn, thiếu thống, thêm vào đó, đội ngũ cán bộ – giảng viên của Khoa chủ yếu là cán bộ – giảng viên trẻ và số lượng còn thiếu.

Về nhân lực: Khoa đã từng bước xây dựng đôi ngũ cán bộ, giảng viên ngày một lớn mạnh cả về chuyên môn và số lượng. Khi mới thành lập, cả Khoa mới chỉ có 08 đồng chí đa phần là mới ra trường tuổi đời còn rất trẻ. Ngoài việc giảng dạy nhiều môn cho toàn trường, các đồng chí còn kiêm thêm các công tác văn phòng, quản lý cũng như phải đảm bảo các hoạt động chuyên môn khác nên các đồng chí đều phải nỗ lực và cố gắng đảm đương các nhiệm vụ của trên giao. Trải qua gần 10 xây dựng và trưởng thành, đến nay Khoa đã có đội ngũ cán bộ giảng viên và nhân viên hùng hậu với 49 đồng chí: 06 TS; 03 NCS và đa số có trình độ Thạc sĩ.

Nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn và phát triển đội ngũ đáp ứng nhiệm vụ chính trị của mình, Khoa luôn luôn quan tâm và tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng viên trong Khoa. Khoa đã hợp tác với các cở sở đào tạo, các viện nghiên cứu có uy tín đúng ngành và gần ngành đào tạo tại Khoa tại Hà Nội cũng như các nước phát triển trong việc gửi cán bộ, giảng viên đi học tập sau đại học, cụ thể: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường ĐH KTQD, Trường ĐH Thương mại, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH Ngoại Thương, Trường ĐH Phùng Giáp – Đài Loan, University of the East, Manila – Philippine, Trường ĐH Nam Luzon – Philippine. Hiện tại, Khoa đang có 05 đồng chí học tập sau đại học tại nước ngoài; 16 đồng chí được gửi đi đào tạo tại các cơ sở uy tín trong nước; 03 nghiên cứu sinh. Ngoài ra, Khoa còn phối hợp và hợp tác với các viện, trường đại học và doanh nghiệp trong việc mở lớp tập huấn ngắn hạn về nghiệp vụ và chuyên môn cho cán bộ giảng viên trong Khoa. Từ 2011 đến nay, Khoa đã phối hợp với IBM Việt mở 03 khóa tập huấn về Tin học quản lý cho cán bộ, giảng viên trong Khoa; phối hợp với IIG Việt Nam mở nhiều khóa tập huấn cho cán bộ, giảng viên, sinh viên trong và ngoài trường theo chuẩn quốc tế IC3 và hàng trăm cán bộ, giảng viên, sinh viên, người lao động khu vực Thái Nguyên và lân cận được học và thi đạt chứng chỉ quốc tế IC3. Đồng thời, Khoa thường xuyên cử cán bộ – giảng viên đi tham gia các khóa tập huấn, hội nghị, hội thảo đặc biệt là các sự kiện do các đơn vị, cơ quan, viện, trường đại học, hiệp hội lien quan tới HTTTQL tổ chức như: Mạng lưới các trường đại học đào tạo Hệ thống thông tin quản lý tại Việt Nam, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, Trường Đại học Ngoại Thương, Trường ĐH Thương mại, Hiệp hội TM ĐT Việt Nam, Cục TMĐT và CNTT,… Thông qua các buổi tập huấn đó, cán bộ, giảng viên sẽ được chia sẻ những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm quản lý mới, tiên tiến góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Khoa.

Về đào tạo và nghiên cứu khoa học: Về đào tạo, triển khai đào tạo, giảng dạy, hướng dẫn thực tập và khóa luận đối với chuyên ngành, ngành HTTTQL tại Khoa nghiêm túc, quy củ, cụ thể: Giảng viên lên lớp phải đảm bảo hồ sơ giảng dạy đúng quy định; Bộ môn chuyên môn cùng với Khoa rà soát chuyên môn toàn bộ nội dung các môn học bám sát mục tiêu đào tạo ngành và cập nhật những tiến bộ thành tựu mới trước khi giảng dạy ít nhất 02 tuần; các đề tài thực tập, khóa luận được đưa ra Hội đồng khoa học thẩm định, phê duyệt kỹ lưỡng trước khi giao cho sinh viên; Bắt buộc sinh viên phải đi thực tập, thực tế tại cơ quan, doanh nghiệp. Chính những cách làm này đã đem lại kết quả tích cực trong công tác quản lý cũng như giảng dạy tại Khoa và đã được cấp trên ghi nhận với thành tích suốt 04 năm liền 2011 – 2012, 2013 – 2013, 2013 – 2014 và 2014 – 2015 là đơn vị hoàn thành suất xắc nhiệm vụ của Đại học Thái Nguyên và Trường ĐH CNTT&TT. Chính chất lượng và uy tín trong đào tạo mà số lượng sinh viên đăng tuyển vào Khoa ngày một tăng, số lượng sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi hàng năm đều tăng và đáp ứng tốt nhu cầu xã hội.

Về hoạt động nghiên cứu khoa học, Khoa không ngừng mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học về Hệ thống thông tin quản lý nhằm tìm ra những nét mới, những vấn đề của quản trị hệ thống thông tin, tin học kinh tế, tin học kế toán, tin học ngân hàng và thương mại điện tử Việt Nam nói chung và khu vực Trung du và miền núi phía Bắc nói riêng. Với mục đích đó, từ 2012 – đến nay, Khoa đã đề xuất và được phê duyệt các đề tài nghiên cứu khoa học về HTTTQL: Cấp Bộ (02 đề tài), cấp Đại học (04 đề tài), cấp cơ sở (27 đề tài), cấp sinh viên (32 đề tài) và hàng trăm khóa luận tốt nghiệp.

Cấp

Bộ

Đại học

Cơ sở

Sinh viên

Số lượng

2

4

27

32

htttql 1

Hình 1: Các đề tài NCKH thuộc lĩnh vực HTTTQL các cấp đã thực hiện

Về liên kết doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn: Trong thời gian qua, Khoa đã tích cực, chủ động trong các hoạt động hợp tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyên giao công nghệ với nhiều Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các trường đai học lớn, có uy tín và đem lại kết quả cao. Cụ thể: Tháng 11/2013, Khoa đã tiến hành hợp tác và chuyển giao 80 tài khoản tham gia bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho cán bộ, sinh viên của chuyên ngành, ngành Hệ thống thông tin quản lý của Khoa nói riêng và sinh viên trên địa bàn Thái Nguyên nói chung trị giá gần 2700 USD. Từ năm 2012 trở lại đây, Khoa HTTT Kinh tế và công ty IBM Việt Nam đã triển khai hợp tác hoạt động bồi dưỡng về phân tích dữ liệu, quản trị thông tin doanh nghiệp, khai phá dữ liệu. Trong vòng 3 năm, từ 2012 – 2014 Khoa phối hợp với IBM Việt Nam mở 3 đợt tập huấn và tổ chức thi lấy chứng chỉ cho gần 500 học viên trong đó 418 đã thi đạt chứng chỉ Quốc tế về phân tích dữ liệu IBM SPSS. Đối với các hoạt động hợp tác giữa Khoa và Công ty IIG Việt Nam, từ 2011 đến năm 2013, 2014 Khoa và Công ty IIG Việt Nam thường xuyên mở các lớp ngắn hạn về chuẩn Quốc tế IC3 và đã thu được đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên, sinh viên tại Thái Nguyên và vùng lân cận. Năm 2013, 2014 Khoa đã phối hợp tập đoàn MISA trong việc mở các lớp ngắn hạn tập huấn tin học trong kế toán tài chính, nhân lực cho gần 80 lượt học viên tham gia. Với cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin – Bộ Công thương Khoa cũng có hợp tác mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại điện tử, như hợp tác trong việc tiếp nhận và chuyển giao Hệ thống thực hành Sàn giao dịch điện tử Ekip.vn; gửi sinh viên đến thực tập cơ sở, chuyên ngành và khóa luận.Thông qua các buổi tập huấn Khoa đã lồng ghép đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về Công nghệ thông tin, tin học và thương mại điện tử, kiến thức Internet cho nhiều đối tượng người học không chuyên về công nghệ thông tin, kinh tế trên địa bàn các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc của Việt Nam.

3. Một số kết quả đạt được

a. Về công tác tuyển sinh

Công tác tuyển sinh được tăng cường góp phần tăng nguồn tuyển sinh đầu vào với chất lượng ngày một nâng cao. Từ năm 2012 trở lại đây, Khoa đã chủ động, tích cực trong các hoạt động quảng bá về ngành HTTTQL tới đông đảo học sinh cuối cấp tại hầu hết các tỉnh thành khu vực Trung du và Miền núi phía bắc. Hàng năm, Khoa đều tiến hành 2 đợt tuyển sinh vào tháng 3 và tháng 8 tại các trường phổ thông, thiết lập đường dây nóng công tác tư vấn tuyến sinh, giao lưu, kết nghĩa với các trường phổ thông các tỉnh, thành trong khu vực. Thông qua đó, giới thiệu tới các em học sinh, sinh viên hiểu rõ ngành HTTTQL, định hướng nghề nghiệp tới các em góp phần thu hút đông đảo các em tham gia vào đội ngũ nhân lực HTTTQL tương lai cho quê hương đất nước. Với những nỗ lực không ngừng, số lượng tuyển sinh ngành HTTTQL của không ngừng tăng cao. Cụ thể:

Năm học

2009-2010

2010-2011

2011-2012

2012-2013

2013 – 2014

2014-2015

2014-2015

Sinh viên

53

112

125

160

216

260

350

htttql 2

Hình 2: Công tác tuyển sinh giai đoạn 2009 – 2015

Quy mô đào tạo qua đó không ngừng tăng lên với đang dạng loại hình đào tạo góp phần nâng cao chất lượng lao động hiện tại và chuẩn bị kỹ lưỡng lực lượng lao động HTTTQL trong tương lại tại khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc. Cụ thể:


Năm học

2009-2010

2010-2011

2011-2012

2012-2013

2013 – 2014

2014-2015

2014-2015

Quy mô

109

277

500

760

987

1209

1537

Chính quy

53

112

125

160

216

260

350

Ngoài NS

56

165

375

600

771

949

1187

htttql 3

Hình 3: Quy mô đào tạo tại Khoa HTTTQL

Ngoài ra, Khoa HTTT Kinh tế còn thường xuyên tổ chức các sự kiện các sự kiện, toạ đàm, cuộc thi văn thể mỹ cho sinh viên, các câu lạc bộ phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh, giúp sinh viên phát triển toàn diện vừa hồng vừa chuyên đáp ứng nhân lực ngành HTTTQL cả về chuyên môn, kỹ năng mềm và sức khoẻ.

b. Về đào tạo

Chương trình đào tạo ngành HTTTQL được quan tâm, chú trọng đặc biệt với mục tiêu “Đào tạo những gì xã hội cần – Không đào tạo những gì mình có” đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực tại vùng và xã hội. Qua quá trình khảo sát hàng năm, Nhà trường và Khoa đã có được những kết quả về nhu cầu của xã hội và căn cứ vào chất lượng đầu vào của học sinh sinh viên để thay đổi chương trình đào tạo – giảng dạy phù hợp với yêu cầu thực tế. Cụ thể, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng tín chỉ về công nghệ thông tin, tăng tín chỉ thực hành. Số liệu sau đây về số lượng môn học có thực hành và tín chỉ thực hành trong chương trình đào tạo ngành HTTTQL:

 

KHÓA

K7,8

K9

K10

K11

K12

K13

Số tín chỉ thực hành

7.5

7,5

8

8,5

9

11

Môn có thực hành

10

10

12

13

15

17

Môn cơ sở ngành, chuyên ngành

32

32

32

32

32

32

 

 

htttql 4

Hình 4: Số tín chỉ thực hành trong các học phần cơ sở ngành, chuyên ngành

Bằng việc mạnh dạn đổi mới chương trình đào tạo, nội dung phương pháp giảng dạy mà tỷ lệ xếp loại sinh viên khá giỏi ngành HTTTQL của Khoa tốt nghiệp tăng qua các năm.

 

Xếp loại tốt nghiệp

2011-2012

2012-2013

2013 – 2014

2014-2015

Suất xắc

2

7

8

9

Giỏi

7

12

16

17

Khá

19

40

43

62

Trung bình

20

28

42

50

yếu – kém

5

11

13

15

 

 

httttql 5

Hình 5: Tỷ lệ xếp loại sinh viên ngành HTTTQL tốt nghiệp

c. Về công tác học sinh – sinh viên

Khoa quan tâm sâu sắc tới công tác học sinh – sinh viên, có cách làm linh động – kịp thời, tháo gỡ khó khăn cho sinh viên và lấy người học làm trung tâm để sinh viên hăng say học tập, rèn luyện góp phần nâng cao chất lượng học và dạy đối với ngành HTTTQL nói riêng và toàn bộ ngành đào tạo của Khoa nói chung. Nâng cao chất lượng phục vụ, văn phòng, hành chính và giải quyết tốt công tác học sinh sinh viên. Khoa đã tham mưu cho Nhà trường có quy chế nhằm khuyến khích hỗ trợ, động viên sinh viên ngành HTTTQL có hoàn cảnh khó khăn, dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Giảm tỷ lệ sinh viên Sinh viên nghỉ học, bỏ học, bị đình chỉ, kỷ luật. Ngoài ra, Tăng quỹ học bổng khuyến khích, phân chia phù hợp với mục tiêu phát triển thu hút các ngành đào tạo thuộc HTTTQL.

d. Về hoạt động nghiên cứu khoa học

Khoa luôn luôn khuyến khích, động viên và có cơ chế phù hợp đối với hoạt động nghiên cứu khoa học – nhất là nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực HTTTQL, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực HTTTQL ở mức độ chuyên sâu, tiếp cận với những tiến bộ mới nhất hiện nay của Việt Nam và thế giới. Khoa đã bồi dưỡng và động viên khuyến khích mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, trong đó chủ yếu là sinh viên ngành HTTTQL. Từ 2012 tới nay, số lượng đề tài KHCN cấp sinh viên đều tăng, số tiền hỗ trợ nghiên cứu khoa học sinh viên cũng tăng lên đáng kể. Cụ thể:

4. Những kiến nghị nhằm phát triển đào tạo chính quy ngành HTTTQL tại Việt Nam

1. Xây dựng chương trình cốt lõi đào tạo ngành HTTTQL. Chương trình cốt lõi đào tạo ngành HTTTQL nên xây dựng khoảng 10% trên tổng số các học phần hoặc 20% – 30% tổng số tín chỉ trong chương trình đào tạo. Những học phần này sẽ phải đảm bảo có tính chuyên sâu và đảm bảo chuẩn đầu ra đúng với mục tiêu đào tạo chung của Ngành, chuyên ngành. Sau khi học xong môn học này sinh viên sẽ làm được gì thực tế. Theo kinh nghiệm tại Khoa HTTTKT các môn học sẽ có thời lượng nhiều hơn gắn với thực hành.

DANH SÁCH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỐT LÕI CỦA NGÀNH:

 

STT

Nhóm môn học

Số TC

I

NHÓM MÔN:  Quản trị chuỗi giá trị và cung ứng điện tử

1

Quản trị chuỗi giá trị chiến lược

2

2

Quản trị chuỗi cung ứng

2

II

NHÓM MÔN:  Xử lý – phân tích dữ liệu thống kê, dự báo kinh tế

3

Các phương pháp xử lý thống kê kinh tế SPSS

3

4

Phân tích dữ liệu và dự báo kinh tế

3

III

NHÓM MÔN: Xây dựng và phá triển hệ thống thông tin kinh tế

5

Hệ thống thông tin quản lý

3

6

Xây dựng và phát triển các hệ thống thông tin kinh tế

3

IV

NHÓM MÔN: Quản trị – phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ ra quyết định trong quản lý

7

Hệ hỗ trợ ra quyết định trong quản lý

3

8

Ứng dụng CNTT trong kinh tế

3

9

Quản trị doanh nghiệp ERP

3

 

  1. Tổng số học phần: 09
  2. Tổng số tín chỉ: 25
  3. Phần trăm so với chương trình đào tạo:  25/136 ~ 20%

2. Lắng nghe ý kiến phản hồi để điều chỉnh chương trình đào tạo từ nhiều phía. Để đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội và người học, mỗi đơn vị đào tạo ngành HTTTQL cần chủ động tổ chức các buổi tọa đàm, hội nghị về HTTTQL để lắng nghe những ý kiến chuyên gia, nhà quản lý về đào tạo, kinh nghiệm và có hướng đi mới phù hợp. Đặc biệt, định kỳ theo năm học hoặc kỳ học các đơn vị cần có khảo sát nhanh ý kiến các đối tượng có liên quan tới ngành như: sinh viên, cựu sinh viên, doanh nghiệp sử dụng lao động, học sinh và phụ huynh,.. Trên cơ sở đó nắm bắt cụ thể mong muốn, nguyện vọng của các đối tượng liên quan nằm điều chỉnh hoạt động đào tạo, công tác quản lý tốt nhất.

3. Kiên quyết đào tạo gắn liền với thực hành và thực tập chuyên sâu về HTTTQL. Hệ thống thông tin quản lý là ngành giao thoa có gắn chặt Kinh tế và Công nghệ thông tin, vì vậy các kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với người học là vô cùng cần thiết. Các đơn vị đào tạo cần chủ động tạo mối liên hệ với các đơn vị đào tạo, nghiên cứu HTTTQL, Quản trị HTTT trên phạm vi cả nước và các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp nhằm gửi sinh viên đi thực tập, thực tế thông qua các đợt thực tập (Cơ sở, Chuyên ngành, Tốt nghiệp). Ngoài ra, các môn học nên gắn thực hành kết hợp công nghệ thông tin với kinh tế, kế toán và thương mại.

4. Kiến nghị với các cơ quan Nhà nước cho phép mở Hiệp hội các trường có đào tạo ngành HTTTQL tại Việt Nam. Kiến nghị với Bộ GD&ĐT, Bộ Công thương và các cơ quan liên quan trong việc phát triển mạng lưới các trường Đại học, Cao đẳng đào tạo ngành Hệ thống thông tin quản lý như ý tưởng cuộc gặp gỡ các trường Đại học, Cao đẳng cả nước tháng 04/2015 tại Hà Nội. Trên cơ sở đó, thu hút ngành càng đông đảo sự tham gia nhiệt thành của các cơ sở đào tạo ngành, chuyên ngành HTTTQL trên phạm vi cả nước. Đây là cơ hội rất tốt nhằm hướng tới một công đồng HTTTQL nhằm chia sẻ kinh nghiệm đào tạo và cùng hỗ trợ trong tiến trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành HTTTQL tại nước ta.

5. Học hỏi một mô hình đào tạo HTTTQL của cơ sở đào tạo uy tín và có kinh nghiệm trên thế giới. Một số mô hình đào tạo của Hoa Kỳ kết hợp đào tạo ngành HTTTQL với Thương mại điện tử trình độ Đại học và sau đại học:  Mô hình của Hoa Kỳ kết hợp đào tạo ngành Hệ thống thông tin quản lý với Thương mại điện tử trình độ Đại học và sau đại học như mô hình của Trường ĐH Fullerton thuộc California State University; Mô hình đào tạo trực tuyến của các trường: Ferris State University, Northern Virginia Community College, Seattle University;  Bên cạnh đó, chú trọng tìm hiểu và học hỏi những điều hay từ một số mô hình đào tạo tiên tiến về TMĐT trên thế giới đã đem lại kết quả và được cộng đồng thế giới đánh giá cao. 

Check Also

Thông tin tuyển sinh năm 2019 – Trường Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 

📣📣📣 Tuyển sinh Đại học chính quy với 17 ngành đào tạo, theo 02 phương thức xét …

Left-Banner
Right-Banner